Hạch toán kế toán là gì - Phương pháp nghiên cứu của hạch toán kế toán
Ngày đưa tin: 04/05/2012
Nguồn tin: taichinh247

Hạch toán kế toán là một môn khoa học phản ánh và giám đốc các mặt hoạt động kinh tế – tài chính ở tất cả các đơn vị, các tổ chức kinh tế xã hội.

TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA HẠCH TOÁN KẾ TOÁN

Để đáp ứng cho nền sản xuất xã hội ngày càng phát triển, kế toán cũng phải thay đổi để phù hợp với yêu cầu cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng thông tin kế toán.

  •  Hạch toán nghiệp vụ: là sự quan sát, phản ánh và giám đốc trực tiếp từng nghiệp vụ kinh tế – kỹ thuật cụ thể nhằm mục đích chỉ đạo kịp thời và thường xuyên các nghiệp vụ đó.
  •  Hạch toán thống kê: Là môn khoa học nghiên cứu mặt lượng trong mối quan hệ với mặt chất của các hiện tượng kinh tế – xã hội số lớn trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể nhằm rút ra bản chất và tính quy luật trong sự phát triển của các hiện tượng đó.
  •  Hạch toán kế toán: là môn khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về tài sản và sự vận động của tài sản trong đơn vị nhằm theo dõi toàn bộ các quá trình, hoạt động kinh tế – tài chính ở đơn vị đó.

ĐỐI TƯỢNG SỬ DỤNG THÔNG TIN KẾ TOÁN

- Các nhà quản lý: là những người trực tiếp tham gia quản trị kinh doanh, quản lý doanh nghiệp, ra các quyết định kinh doanh, chỉ đạo tác nghiệp trực tiếp tại đơn vị, gồm có: Chủ doanh nghiệp, Ban giám đốc, Hội đồng quản trị.
- Những người có liên quan:

  •  Lợi ích trực tiếp: gồm có các nhà đầu tư, chủ nợ… của đơn vị.
  •  Lợi ích gián tiếp: Cơ quan thuế, cơ quan thống kê, các cơ quan quản lý Nhà Nước, cơ quan tài chính, công nhân viên, các nhà phân tích tài chính…

Do sự khác biệt về mục đích sử dung, cách thức sử dụng, trình độ kế toán, quan hệ lợi ích…nên mỗi đối tượng trên có yêu cầu khác nhau đối với thông tin kế toán và tiếp cận hệ thống kê toán dưới những góc độ khác nhau.

ĐẶC ĐIỂM THÔNG TIN CỦA HẠCH TOÁN KẾ TOÁN

  •  Thông tin kế toán là thông tin động về tuần hoàn của tài sản, phản ánh một cách toàn diện nhất tình hình biến động của tài sản của doanh nghiệp trong toàn bộ quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh từ khâu cung cấp, sản xuất đến tiêu thụ.
  •  Thông tin kế toán luôn mang tính 2 mặt: tài sản – nguồn hình thành tài sản, tăng – giảm , chi phí – kết quả ….
  •  Thông tin kế toán là kết quả của quá trình có tính 2 mặt: thông tin và kiểm tra.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA HẠCH TOÁN KẾ TOÁN

  •  Sử dụng cả 3 loại thước đo: thước đo hiện vật, thước đo lao động và thước đo giá trị nhưng chủ yếu nhất là thước đo giá trị.
  •  Các phương pháp kinh tế như: phương pháp chứng từ, phương pháp đối ứng tài khoản, phương pháp tính giá, phương pháp tổng hợp và cân đối kế toán.

YÊU CẦU VÀ CHỨC NĂNG CỦA HẠCH TOÁN KẾ TOÁN

a) Chức năng:

  •  Cung cấp thông tin: thể hiện ở chỗ kế toán thu nhận và cung cấp thông tin về toàn bộ tài sản và sự vận động của tài sản trong quá trình sản xuất kinh doanh của đơn vị.
  •  Chức năng kiểm tra: thể hiện ở chỗ thông qua việc ghi chép, tính toán, phản ánh kế toán sẽ nắm được một cách có hệ thống toàn bộ tình hình và kết quả hoạt động của đơn vị.


b) Yêu cầu:

  •  Tài liệu kế toán cung cấp phải đảm bảo tính thống nhất về nội dung và phương pháp tính toán.
  •  Tài liệu kế toán cung cấp phải phản ánh kịp thời, đầy đủ, chính xác, trung thực và khách quan tình hình thực tế hoạt động , quản lý kinh tế tài chính, các hiện tượng kinh tế xảy ra trong đơn vị.
  •  Tài liệu kế toán cung cấp phải rõ ràng, dễ hiểu.
  •  Tổ chức công tác kế toán ở đơn vị phải quán triệt nguyên tắc tiết kiệm, nhằm đảm bảo công tác kế toán có hiệu suất cao, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị.

PHÂN LOẠI HẠCH TOÁN KẾ TOÁN

1 Căn cứ vào đối tượng sử dụng thông tin của kế toán: kế toán được chia thành kế toán tài chính và kế toán quản trị

  • Kế toán quản trị: là loại kế toán phục vụ cho những người quản lý doanh nghiệp. Những thông tin kế toán quản trị đòi hỏi nhanh, linh hoạt, kịp thời để giúp cho việc xây dựng chiến lược tổng quát và đề ra các quyết định quan trọng đối với doanh nghiệp.
  • Kế toán tài chính: là loại kế toán nhằm cung cấp thông tin cho những người ra quyết định bên ngoài doanh nghiệp và được tóm tắt dưới dạng báo cáo gọi là báo cáo tài chính. Đây là những thông tin kế toán tổng quát toàn doanh nghiệp được lập định kỳ và phải đảm bảo những nguyên tắc chung nhằm đảm bảo cho sự tin cậy của những người nhận báo cáo.

2. Căn cứ vào mức độ khái quát thông tin do kế toán cung cấp: bao gồm:

  •  Kế toán tổng hợp: là loại kế toán mà thông tin về các hoạt động kinh tế tài chính được kế toán thu nhận, xử lý ở dạng tổng quát và được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ.
  •  Kế toán chi tiết: là loại kế toán mà thông tin về các hoạt động kinh tế tài chính được kế toán thu nhận, xử lý ở dạng chi tiết, cụ thể, tỷ mỉ và được biểu hiện không những dưới hình thái tiền tệ mà cả dưới hình thái hiện vật, hình thái lao động.

3 Căn cứ vào cách ghi chép và thu nhận thông tin:

  •  Kế toán đơn: là kế toán phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh làm ảnh hưởng đến các đối tượng kế toán một cách độc lập, riêng biệt. Sự phản ánh này không cho thấy mối quan hệ giữa các đối tượng kế toán với nhau. Kế toán này được sử dụng để phản ánh các đối tượng kế toán là tài sản nhưng không thuộc quyền sở hữu của đơn vị hoặc dùng để phản ánh các chỉ itêu nhằm giải thích tỷ mỉ, chi tiết cho các đối tượng kế toán đã được phản ánh ở các tài khoản khác.
  •  Kế toán kép: là kế toán dùng để phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh được tiến hành trong mối quan hệ mật thiết giữa các đối tượng kế toán với nhau. Kế toán kép được sử dụng phổ biến để thu nhận, cung cấp thông tin về toàn bộ hoạt động kinh tế tài chính xảy ra ở đơn vị.


4 Căn cứ vào đặc điểm họat động của các đối tượng tiến hành hạch toán kế toán:

  •  Kế toán công: là loại hạch toán kế toán được tiến hành ở những đơn vị không mang tính chất kinh doanh.
  •  Kế toán doanh nghiệp: là loại hạch toán kế toán được tiến hành ở những đơn vị hoạt động với mục đích kinh doanh sinh lời.






Tin mới
Các tin khác