BẢN TIN KINH TẾ NGÀNH

SỐ THÁNG 4 - 2020


 

I. NGÀNH THUỶ SẢN

 

Tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác vẫn tăng 2% trong quý đầu năm. Tuy nhiên, tình hình hạn hán, xâm nhập mặn tiếp tục diễn ra trên diện rộng tại ĐBSCL có thể sẽ ảnh hưởng đến nuôi trồng thủy sản trong thời gian tới.

 

Xuất khẩu thủy sản Q1-2020 chịu ảnh hưởng tiêu cực do dịch COVID-19 bùng phát mạnh tại các thị trường lớn của Việt Nam (Mỹ, Châu Âu, Hàn Quốc). Nhu cầu nhập khẩu thủy sản của các thị trường này đang có xu hướng giảm do nhu cầu tiêu dùng giảm (hạn chế bởi các lệnh giới nghiêm và phong tỏa thành phố tại các quốc gia đang có dịch bệnh) và lượng tồn kho cao của các nhà nhập khẩu. Tỷ lệ các đơn hàng bị khách yêu cầu tạm hoãn và tỷ lệ các đơn hàng bị khách yêu cầu dừng hoặc hủy khá cao (lần lượt 20- 40% và 20-30%). Việc ký kết các đơn hàng mới cho Q2 & Q3 cũng rất khó khăn, đặc biệt tại các nhóm thị trường chính như Mỹ, Nhật, EU,... Riêng Trung Quốc, từ tháng 3 thì thị trường Trung Quốc bắt đầu có dần các đơn hàng trở lại.

 

Tính đến hết tháng 3/2020, xuất khẩu thủy sản của cả nước đạt 1.61 tỷ USD, giảm 9.7% (theo Tổng cục Hải quan). Trong đó, xuất khẩu cá tra giảm mạnh nhất (giảm 31.1%), chủ yếu do giảm sang thị trường Trung Quốc từ 2 tháng đầu năm. Xuất khẩu tôm giảm nhẹ 4.3%, trong khi xuất khẩu các mặt hàng hải sản giảm sâu (cá ngừ giảm 13.5%, mực - bạch tuộc giảm 28.2%) (theo VASEP).

 

 

Nguồn: Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan, (a) số liệu ước tính theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP)

 

1. Thuỷ sản Cá tra

 

Tại thị trường trong nước, giá cá tra/ tôm tiếp tục giảm. Đồng thời do người nuôi lo sợ giá tiếp tục giảm nên thu hoạch sớm; trong khi DN tạm thời ngưng mua nguyên liệu do các đơn hàng xuất khẩu bị hoãn, hủy và không có các đơn hàng mới, còn kho lạnh thì đã đầy hàng tồn kho hoặc thiếu kho. Riêng đối với cá tra:

 

Giá bán buôn cá tra tham khảo tại Đồng Tháp trong tháng dao động trong khoảng 18,000-18,500 đ/kg đối với cá tra loại I (700-800g/con), đây là mức giá thấp nhất trong 10 năm qua (trong khi giá thành sản xuất từ 21,000 – 22,000 đồng/kg) nên hầu hết người nuôi lỗ.

 

Xuất khẩu cá tra trong Q1-2020 giảm mạnh 31.1% so với cùng kỳ. Tính đến 15/03, xuất khẩu cá tra sang hầu hết các thị trường đều giảm mạnh, đặc biệt xuất sang thị trường Trung Quốc & Hong Kong, EU giảm mạnh (giảm ~48%).

 

Nguồn: Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), (*): số liệu tính từ 01/01-15/03 hàng năm

 

2. Thuỷ sản Tôm

Nguồn: Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), (*): số liệu tính từ 01/01-15/03 hàng năm


 

II. NGÀNH DỆT MAY - DA GIÀY

 

Dịch COVID-19 bùng phát khiến ngành Dệt may & Da giày Việt Nam đối mặt với khó khăn “kép”.

 

Khi từ sau Tết đến giữa T3-2020 nhiều DN trong ngành rơi vào khó khăn do thiếu hụt nguyên phụ liệu sản xuất do phần lớn được cung ứng từ Trung quốc, Hàn quốc, Đài loan...là những nước bị ảnh hưởng năng bởi dịch/ hoặc sản xuất cầm chừng nhờ nguồn NPL dự trữ.

 

Song, đến đầu T03-2020, ngành phải đối mặt với khó khăn mới: tình trạng thiếu hụt đơn hàng do dịch đã lây lan nhanh trên toàn cầu, nhu cầu dệt may thế giới giảm mạnh, đặc biệt EU, Mỹ là những thị trường tiêu thụ lớn của ngành (chiếm trên 70% tổng giá trị xuất khẩu), nhiều đơn hàng bị hủy, dừng, tạm ngừng. Trong khi ~90% sản lượng của ngành phục vụ cho xuất khẩu.

 

Cụ thể, trong Q1-2020, kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc (trang phục) giảm 1.4% (T03: giảm 7.7%, đặc biệt giảm mạnh ở thị trường Hàn Quốc, EU, Mỹ); Xơ sợi giảm 6.5%, trong khi giày dép vẫn tăng 5.7%.

 


 

Nguồn: Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan, Hiệp hội Dệt may Việt Nam


 

III. NGÀNH THÉP

 

Ngoài những thách thức sẵn có, trong quý đầu năm 2020 ngành thép càng khó khăn do ảnh hưởng thêm từ đại dịch COVID-19: (1) hầu hết các công trường, công trình và các dự án xây dựng có sử dụng đến mặt hàng thép đều bị dừng hoặc giãn tiến độ thi công; (2) Dịch bệnh khiến giá thép trên thị trường thế giới và Trung Quốc giảm sâu, trong khi giá một số nguyên liệu sản xuất thép lại có xu hướng tăng do hạn chế của nguồn cung từ Trung Quốc như than cốc, quặng sắt, than điện cực, gạch chịu lửa, ferro... Các yếu tố trên khiến DN gặp nhiều khó khăn về chi phí sản xuất cũng như hoạt động tiêu thụ hàng hóa. Tính chung Q1-2020, sản lượng sản xuất và bán hàng các sản phẩm thép của các DN là thành viên của VSA giảm lần lượt 6% và 12.4% so với cùng kỳ; trong đó xuất khẩu của VSA giảm đến 21.3% (trong khi xuất khẩu mặt hàng sắt thép chung của cả nước vẫn tăng).


 


 

 

Nguồn: Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan, Hiệp hội Thép Việt Nam


 

IV. NGÀNH SẢN XUẤT GỖ

 

Cũng giống các ngành khác, do ảnh hưởng bởi dịch COVID-19, nên chỉ số sản xuất của ngành chế biến gỗ giảm 4.2% trong Q1 (riêng T03 giảm 8.7%), mặc dù giá trị xuất khẩu vẫn tăng 13.9% (do xuất các hàng tồn kho từ trước để giao các đơn hàng cũ, chỉ số tồn kho đang giảm dần từ cuối 2019 đến nay).

 

Tuy nhiên, kể từ đầu T03 đến nay, theo báo cáo nhanh của Hiệp hội gỗ Việt Nam, nhiều DN trong ngành đã nhận các thông báo hủy đặt hàng, giãn đơn hàng, khiến các DN xuất khẩu phải thu hẹp quy mô sản xuất, thâm chí một số đã dừng sản xuất.

 

Ngoài ra, chuỗi cung ứng gỗ của Việt Nam, bao gồm cả khâu nhập khẩu và chế biến tiêu thụ nội địa cũng bị ảnh hưởng tiêu cực do các lệnh “đóng cửa” ở các quốc gia và “cách ly toàn xã hội” từ đầu T04.

 



Nguồn: Tổng cục Hải quan, Hiệp hội Gỗ & Lâm sản Việt Nam


 

V. NGÀNH CAO SU

 


Nguồn: ANRPC, Tổng cục Hải quan, Bộ Công Thương


 

VI. NGÀNH PHÂN BÓN

 

Về sản xuất nội địa: Tổng lượng phân bón đạt nghìn tấn, giảm 4.4% so với cùng kỳ. Trong đó, phân đạm Urê và phân NPK chiếm thị phần lần lượt là 38% và 42%.

 

Về nhập khẩu: Trong quý đầu năm, Việt Nam nhập khẩu 985.9 nghìn tấn phân bón, tăng 0.6% so với cùng kỳ, trị giá 245.7 triệu USD. Việt Nam chủ yếu nhập khẩu phân bón từ Trung Quốc (chiếm 42.7%), tăng 30.8% về lượng.

 

Xuất khẩu chỉ chiếm ~13.2% sản lượng sản xuất, đạt 58.6 triệu USD, tăng 55.6%

 


Nguồn: Bộ Công Thương, Tổng cục Thống kê (GSO), Tổng Cục Hải Quan


 

VII. NGÀNH HÀNG KHÔNG

 

Ngành hàng không Việt Nam đang phải chịu ảnh hưởng nặng nề từ dịch COVID-19 khi:

 

(1) Các quốc gia thực hiện chính sách phong tỏa để hạn chế sự lây lan của dịch đã làm ảnh hưởng đến nhu cầu du lịch và đi lại;

 

(2) Từ giữa T03, các hãng hàng không VN bị hạn chế dần các đường bay quốc tế và chính thức ngừng toàn bộ đường bay quốc tế từ ngày 25/03;

 

(3) Từ ngày 01/04, các hãng hàng không VN chỉ được khai thác vận chuyển hành khách với tần suất hạn chế chỉ giữa 3 thành phố lớn Hà Nội – Hồ Chí Minh – Đà Nẵng(*) ;

 

(4) Đến ngày 16/04 Cục hàng không đề nghị các hãng hàng không chưa được bán vé khi chưa được cấp phép và yêu cầu các hãng gửi đề nghị cấp phép bay cho giai đoạn 16-30/4 để được xem xét.

 

Cụ thể, tổng lượt khách di chuyển bằng hàng không trong Q1- 2020 giảm 8% so với cùng kỳ (11.9 triệu hành khách).

 

Trong đó, lượng khách quốc tế đến VN bằng đường hàng không giảm 14.9% (2.99 triệu lượt), riêng T3 giảm 68.1%. Trong khi đó, số chuyến bay khai thác trong Q1 giảm 4.5% so với cùng kỳ (mức giảm chuyến ít hơn mức giảm lượt khách). Riêng tháng 3 giảm 25.6% so với T3-2019.

 

 

Nguồn: Cục Hàng không Việt Nam (CAA), GSO, Tổng cục Du lịch, (*) Công văn số 1350/CHK – VTHK


 

XIN CẢM ƠN!