TỔNG QUAN


Tháng 11 tiếp tục là tháng thứ 4 liên tiếp kinh tế Việt Nam ghi nhận những số liệu vĩ mô tích cực với các chỉ số sản xuất công nghiệp, tiêu dùng trong nước và xuất khẩu đều tăng tốc. Đặc biệt xuất siêu đạt mức kỷ lục. Thị trường chứng khoán chuyển động tích cực: cả chỉ số và thanh khoản thị trường đều tăng mạnh. Tỷ giá ổn định.

 

Năm 2020 sắp khép lại, Quốc hội vừa ban hành Nghị quyết 124/2020 về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2021. Theo đó, chỉ tiêu tăng trưởng GDP 2021 được đặt ra là 6%, GDP bình quân đầu người khoảng 3,700 USD, tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân khoảng 4%.

 

Với diễn biến kinh tế trong nước hiện tại so với bức tranh chung của kinh tế toàn cầu, cùng với tác động tích cực từ các Hiệp định thương mại thế hệ mới CPTPP, EVFTA, và mới đây nhất là Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), và sự gia tăng “uy tín” gần đây của Việt Nam trong cuộc chiến chống đại dịch COVID-19, kinh tế Việt Nam được đánh giá sẽ có “động lực và đà tăng trưởng tốt hơn” so với nhiều quốc gia khác trong năm 2021.

 

Tuy nhiên, những vấn đề đáng quan ngại và thách thức mà chúng tôi đã nêu trong các số Báo cáo trước vẫn cần tiếp tục theo dõi: Số lượng doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh và/hoặc giải thể vẫn tiếp tục tăng, nhiều doanh nghiệp có nguy cơ mất/ thiếu thanh khoản; Theo đó, tình hình nợ xấu của toàn hệ thống (bao gồm cả tín dụng ngân hàng, và trái phiếu doanh nghiệp) có nguy cơ tăng cao trong thời gian tới. Tình hình bão lũ miền Trung gây ra những thiệt hại cho ngành nông lâm thủy sản, và những đình trệ nhất định về kinh tế và đời sống người dân. 

 

I. CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG (CPI)


1. CPI bình quân & Lạm phát so với cùng kỳ (%YoY)
 

So với bình quân các Lạm phát tháng trước, đà tăng của CPI bình quân 11T-2020 đã chậm lại. Tuy nhiên vẫn là mức cao so với cùng kỳ 2019 do giá thịt lợn vẫn neo ở mức giá cao (dù đã giảm nhiệt trong 3 tháng gần đây).

 

CPI T11-2020  0.01% so với tháng trước, chủ yếu do giá xăng dầu trong nước giảm theo giá nhiên liệu thế giới; giá điện, nước sinh hoạt giảm do nhu cầu tiêu dùng không cao trong mùa mưa.

 

2. CPI so với tháng trước và so với T12 năm trước

3. CPI các tháng trong năm so với tháng cùng kỳ (%YoY) 

II. SẢN XUẤT TRONG NƯỚC


1. IIP toàn ngành công nghiệp (% YoY)

 

Mặc dù mức tăng IIP 11T-2020 vẫn nằm ở mức thấp hơn nhiều so với cùng kỳ 2019 (3.07% so với 9.29%), nhưng xét riêng T11 thì đây là tháng thứ 3 liên tiếp ghi nhận dấu hiệu khởi sắc, với mức tăng 0.54% so với tháng trước và tăng 9.2% so với cùng kỳ. 

2. IIP một số ngành hàng 11T-2020 

 

Riêng trong T11-2020, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đạt mức tăng cao 11.9% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do có sự khởi sắc của các ngành: Sản xuất than cốc và sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 125% (sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 131.1%); Sản xuất kim loại tăng 39%; Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 19.1%; Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 18.9%; … 

III. NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC


IV. VỐN ĐẦU TƯ TỪ NGÂN SÁCH


Giải ngân vốn đầu tư công tiếp tục được đẩy nhanh tiến độ, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn NSNN trong T11-2020 tăng 8% so với tháng trước và tăng 37.1% so với cùng kỳ năm ngoái.

 

So với cùng kỳ năm trước, tốc độ tăng vốn đầu tư thực hiện từ nguồn NSNN 11T-2020 tiếp tục đạt mức cao nhất trong giai đoạn 2016-2020 (đạt 406.8 nghìn tỷ đồng, tăng 34.0% so với cùng kỳ), và đạt 79.3% kế hoạch năm. 

V. VỐN ĐẦU TƯ TỪ NƯỚC NGOÀI